Lén lút lấy lại xe bị tạm giữ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không
Trong thực tiễn, có một số trường hợp người vi phạm giao thông sau khi bị lập biên bản và tạm giữ phương tiện đã lén lút vào bãi tạm giữ để lấy lại xe của mình mang đi cất giấu. Nhiều người cho rằng: “Xe là tài sản của mình thì lấy lại không thể là trộm cắp.” Tuy nhiên, theo định hướng áp dụng pháp luật mới và đặc biệt là Án lệ 74/2025, quan điểm này có thể dẫn đến hậu quả pháp lý rất nghiêm trọng.
Quyền tạm giữ phương tiện vi phạm
Căn cứ quy định tại Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính:
“1. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:
a) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt. Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định của khoản 3 Điều 60 của Luật này;
b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;
c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều này.
2. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện quy định tại khoản 1 Điều này phải được chấm dứt ngay sau khi xác minh được tình tiết làm căn cứ quyết định xử phạt, hành vi vi phạm không còn gây nguy hiểm cho xã hội hoặc quyết định xử phạt được thi hành.
3. Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Thẩm quyền tạm giữ không phụ thuộc vào giá trị của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
4. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và được thực hiện như sau:
a) Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đang giải quyết vụ việc lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo quy định tại khoản 9 Điều này;
b) Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, người lập biên bản phải báo cáo người có thẩm quyền tạm giữ về tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã tạm giữ để xem xét ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản.
Trường hợp không ra quyết định tạm giữ thì phải trả lại ngay tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Đối với trường hợp tang vật là hàng hóa dễ hư hỏng thì người tạm giữ phải báo cáo ngay thủ trưởng trực tiếp để xử lý, nếu để hư hỏng hoặc thất thoát thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
5. Người lập biên bản tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị mất, bán trái quy định, đánh tráo hoặc hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
…”
Theo đó, kể từ thời điểm lập biên bản, chủ sở hữu phương tiện vi phạm sẽ bị hạn chế quyền chiếm hữu, không được tự ý lấy lại tài sản.
Quy định pháp luật giải quyết tình huống này
Quy định về tội trộm cắp tài sản
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
…”
Quy định của án lệ 74/2025
Tình huống án lệ: Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông và tạm giữ phương tiện vi phạm của bị cáo để xử lý. Sau đó, bị cáo lén lút vào khu vực tạm giữ phương tiện vi phạm của cơ quan có thẩm quyền, lấy phương tiện của mình mang đi cất giấu.
Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.
Theo tinh thần của Án lệ 74/2025, Tòa án xác định: Tài sản đang bị tạm giữ hợp pháp thuộc quyền quản lý của cơ quan Nhà nước; Hành vi lén lút lấy tài sản ra khỏi nơi quản lý là hành vi xâm phạm quyền chiếm hữu hợp pháp; Việc tài sản thuộc sở hữu của người vi phạm không loại trừ yếu tố “tài sản của người khác” trong cấu thành tội trộm cắp khi quyền chiếm hữu đã được tạm thời chuyển giao cho người khác.
Trên đây nội dung quy định pháp luật về tình huống án lệ 74/2025 mới nhất được áp dụng từ ngày 01/02/2026 LawKey gửi đến các bạn!
Xử phạt hành chính, kỷ luật hành vi đưa nhận hối lộ
Hành vi đưa nhận hối lộ bị xử lý hành chính, kỷ luật như thế nào ? Hãy cùng LawKey tìm hiểu qua bài viết dưới đây. [...]
Quy định về giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
Giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được quy định như thế nào? Hãy cùng LawKey tìm hiểu qua bài viết dưới đây. Trường [...]