Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự trên không gian mạng
Không gian mạng là gì? Như thế nào được coi là vi phạm pháp luật trên không gian mạng, ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự
Khái niệm không gian mạng
Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, không gian mạng đã trở thành một môi trường đặc thù, nơi diễn ra phần lớn các hoạt động kinh tế, xã hội và giao tiếp của con người. Tại Việt Nam, khái niệm này được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau với cách tiếp cận tương đối thống nhất.
Theo Điều 4 Luật Công nghệ thông tin năm 2006, môi trường mạng được hiểu là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua cơ sở hạ tầng thông tin, bao gồm mạng viễn thông, Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu. Đồng thời, Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 cũng xác định mạng là môi trường trong đó thông tin được xử lý và trao đổi thông qua các hệ thống viễn thông và máy tính. Đặc biệt, Luật An ninh mạng năm 2025 đã quy định không gian mạng là môi trường được hình thành bởi hệ thống mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Từ các quy định trên, có thể khái quát rằng môi trường không gian mạng là môi trường nhân tạo được hình thành trên cơ sở kết nối của hạ tầng công nghệ thông tin, trong đó thông tin được tạo lập, truyền tải và lưu trữ, đồng thời là nơi con người tương tác với nhau thông qua các phương tiện kỹ thuật số mà không bị ràng buộc bởi giới hạn địa lý.
Vi phạm pháp luật trên không gian mạng
Vi phạm pháp luật trên không gian mạng là hành vi vi phạm, trong đó người vi phạm sử dụng môi trường mạng là công cụ, phương tiện hoặc địa điểm để thực hiện hành vi vi phạm một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Căn cứ tại khoản 1 điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. Theo đó người vi phạm pháp luật sẽ bị áp dụng các biện pháp xử phạt như phạt tiền, cảnh cáo hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả.
Trong khi đó, tội phạm theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Người phạm tội phải chịu các hình phạt nghiêm khắc như phạt tù, cải tạo không giam giữ hoặc các hình phạt khác theo quy định của pháp luật hình sự.
Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự
Hiện nay các hành vi vi phạm pháp luật trên môi trường không gian mạng ngày càng gia tăng, tuy nhiên vấn đề đặt ra là không phải mọi hành vi vi phạm trên không gian mạng đều bị xử lý hình sự mà cần có sự phân định rõ ràng giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự.
Xét về mặt khách quan
Xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm. Mức độ nguy hiểm của hành vi được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố khác nhau và các yếu tố này thường được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Theo đó không phải mọi hành vi đăng tải thông tin sai sự thật hoặc xúc phạm người khác trên mạng đều bị coi là tội phạm. Chỉ khi hành vi đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự ví dụ như hành vi đăng bài nói xấu người khác trên nền tảng Facebook có thể chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 37 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP) về mức xử phạt đối với hành vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội như sau:
1.Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
b) Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
c) Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;
d) Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;
đ) Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;
e) Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;
g) Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;
h) Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.
2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
Như vậy, đối với hành vi đăng bài bóc phốt lên mạng xã hội nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. Ngoài ra, còn bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm trên.
Tuy nhiên, nếu hành vi này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, thậm chí dẫn đến hậu quả như tổn hại tinh thần nặng nề, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại điều 155 hoặc tội vu khống tại điều 156 trong Bộ luật Hình sự có thể bị xử phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù tùy theo tính chất mức độ nghiêm trọng của sự việc với hình phạt tù cao nhất lên đến 05 năm tù.
Xét về mức độ thiệt hại
Biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng hóa vi phạm, mức độ thương tật… Căn cứ vào các dấu hiệu này, có thể phân biệt được ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm. Ví dụ đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng nếu tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 tùy theo số tiền chiếm đoạt mà phải chịu các khung hình phạt khác nhau, mức hình phạt cao nhất là tù chung thân:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Nếu tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng (ít nghiêm trọng hơn) phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng thì bị xử phạt vi phạm hành chính quy định tại khoản 1 điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP cụ thể như sau:
“Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác
1.Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
(…)
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.“
Về số lần vi phạm
Nhiều trường hợp bị coi là tội phạm khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi đã thực hiện (hoặc các hành vi khác có tính chất tương tự). Hiện nay, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 có 75 tội có cấu thành “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”. Trong những trường hợp này, nếu chỉ đánh giá về mặt hành vi thì khó xác định một cách chính xác đó là tội phạm hay vi phạm hành chính mà phải căn cứ vào dấu hiệu số lần thực hiện hành vi vi phạm ví dụ về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên, theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản quy định tại các Điều 290 tội sử dụng mạng máy tính mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Điều 168 tội cướp tài sản, Điều 170 tội cưỡng đoạt tài sản,… của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phụ thuộc vào trị giá tài sản bị chiếm đoạt.
Về công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm:
Theo đó đây cũng được coi là căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm. Những hành vi sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, đặc biệt trong môi trường mạng có thể bị xử lý hình sự ngay cả khi giá trị thiệt hại chưa lớn. Ví dụ như một đối tượng tạo nhiều tài khoản ảo trên mạng xã hội, sử dụng công nghệ để giả danh người quen của nạn nhân nhằm vay tiền. Dù số tiền mỗi lần lừa đảo không lớn, nhưng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất lặp lại và gây ảnh hưởng đến nhiều người nên cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mặt chủ quan
Do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của từng trường hợp lỗi là khác nhau, tội phạm là loại vi phạm pháp luật bị áp dụng chế tài nặng nhất nên tại Bộ luật hình sự quy định 04 hình thức lỗi của chủ thể để giúp giải quyết chính xác các vụ án hình sự:
+ Cố ý trực tiếp là trường hợp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.
+ Cố ý gián tiếp là trường hợp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
+ Vô ý vì quá tự tin là trường hợp: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
+ Vô ý do cẩu thả là trường hợp: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Vi phạm hành chính chỉ quy định hai hình thức lỗi là cố ý và vô ý, không có sự phân biệt cố ý trực tiếp hay gián tiếp, vô ý vì quá tự tin hay do cẩu thả
Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi người thực hiện hành vi có lỗi, thường là lỗi cố ý. Đối với các hành vi trên mạng, yếu tố lỗi thể hiện qua việc người thực hiện có nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn thực hiện. Ví dụ việc chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng có thể không bị xử lý hình sự nếu người đăng không biết đó là tin giả. Ngược lại, nếu cố tình lan truyền thông tin sai sự thật nhằm bôi nhọ người khác hoặc trục lợi thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khách thể
Khách thể của vi phạm hành chính và tội phạm đều là các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên mức độ xâm hại là khác nhau. Vi phạm hành chính thường xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước ở mức độ hạn chế, trong khi tội phạm xâm phạm nghiêm trọng đến các quan hệ xã hội quan trọng như quyền sở hữu, danh dự, nhân phẩm, trật tự an toàn xã hội.
Trong không gian mạng, một hành vi ban đầu có thể chỉ là vi phạm hành chính, nhưng khi đạt đến mức độ nguy hiểm nhất định, nó sẽ chuyển hóa thành tội phạm. Điều này thể hiện rõ tính linh hoạt của pháp luật trong việc đánh giá hành vi dựa trên mức độ nguy hiểm thực tế.
Xem thêm: Xử lý vi phạm hành chính là gì? Khái niệm và nguyên tắc
Trên đây là bài viết về ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự trên không gian mạng theo quy định của pháp luật. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc, vui lòng xin liên hệ Lawkey hoặc sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi.
Quy định của pháp luật về nội quy phiên tòa
Nội quy phiên tòa gồm những gì? Quy định của pháp luật về nội quy phiên tòa? Hãy cùng LawKey tìm hiểu qua bài viết dưới [...]
Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Giai quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được quy định như [...]