Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng hình sự
Theo quy định pháp luật, cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra thì có được bồi thường hay không và mức bồi thường như thế nào. Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Khái niệm
Theo quy định pháp luật, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và hoạt động tố tụng hình sự có thể hiểu như sau:
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Căn cứ tại điều 1 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước.
Hoạt động tố tụng hình sự
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng được thực hiện theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định nhằm phát hiện tội phạm, xử lý người phạm tội, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, trong đó mỗi giai đoạn đều có vai trò và ý nghĩa riêng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự
Đối với hoạt động tố tụng hình sự thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại Điều 18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 bao gồm những trường hợp sau:
– Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
– Người bị bắt, người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
– Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
– Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
– Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
– Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
– Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;
– Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
– Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
– Cá nhân, tổ chức có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý, có tài khoản bị phong tỏa hoặc cá nhân, tổ chức khác có liên quan đến các trường hợp nêu trên bị thiệt hại.
Trên đây là bài viết về “Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự”, nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy lên hệ Lawkey hoặc sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi.
Xem thêm: Quy định về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự
Đe dọa dùng vũ lực cản trở thực hiện quyền tự do ngôn luận bị xử phạt bao nhiêu năm tù?
Thế nào là đe dọa? Đe dọa dùng vũ lực cản trở thực hiện quyền tự do ngôn luận bị xử phạt bao nhiêu năm tù? Hãy cùng [...]
Hành vi phát tán tài liệu nhằm chống phá Nhà nước bị xử lý như thế nào?
Hành vi phát tán tài liệu nhằm chống phá Nhà nước bị xử lý như thế nào? Người có hành vi phát tán tài liệu nhằm chống [...]