Trách nhiệm pháp lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy
Để tăng cường công tác phòng, chống ma túy pháp luật Việt Nam đã quy định nhiều biện pháp xử lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy. Vậy người sử dụng trái phép chất ma túy phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào? Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Khái niệm
Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026), chất ma túy được hiểu là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành.
Các chất ma túy có khả năng gây lệ thuộc về thể chất và tinh thần đối với người sử dụng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và trật tự, an toàn xã hội.
Theo đó tại khoản 9 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể có kết quả dương tính.
Như vậy, để xác định một người là người sử dụng trái phép chất ma túy cần có hai yếu tố:
- Có hành vi sử dụng chất ma túy trái phép;
- Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể là dương tính.
Trách nhiệm pháp lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy
Theo quy định của pháp luật hiện hành, người sử dụng trái phép chất ma túy tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Xử phạt vi phạm hành chính
Đối với trường hợp người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP về vi phạm các quy định trong phòng, chống và kiểm soát ma túy.
Cụ thể:
“Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Ngoài hình thức xử phạt chính, người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như:
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
- Áp dụng các biện pháp quản lý, cai nghiện theo quy định của pháp luật trong trường hợp đủ điều kiện.
Việc xử phạt hành chính nhằm mục đích giáo dục, răn đe và hỗ trợ quản lý người sử dụng ma túy, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
Truy cứu trách nhiệm hình sự
Bên cạnh chế tài hành chính Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 đã bổ sung Điều 256a về tội sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo đó người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
– Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;
– Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy;
– Đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy;
– Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế.
Trường hợp tái phạm, người tái phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Quy định này thể hiện chính sách tăng cường đấu tranh phòng, chống ma túy của Nhà nước, đồng thời nâng cao tính răn đe đối với những trường hợp đã được giáo dục, cai nghiện nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
Xem thêm: Tội sử dụng trái phép chất ma túy theo BLHS 2025
Trên đây là bài viết về “Trách nhiệm pháp lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy”. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey bạn nhé!.
Xem thêm: Xử lý hình sự tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Các tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng đất đai
Đất đai là loại tài sản đặc biệt của quốc gia. Do đó, những hành vi vi phạm quy định về quản lý, sử dụng đất sẽ [...]
Điều kiện của trách nhiệm hình sự đối với cá nhân và pháp nhân phạm tội
Khi truy cứu trách nhiệm hình sự cần căn cứ rõ ràng vào điều kiện phạm tội. Khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì [...]