Căn cứ chuyển từ vụ án dân sự sang vụ án hình sự
Vụ án dân sự và vụ án hình sự là gì? Căn cứ nào để chuyển từ vụ án dân sự sang vụ án hình sự. Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Vụ án dân sự và vụ án hình sự
Vụ án dân sự là những tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội giữa các chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động theo quy định tại Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Đây là các tranh chấp mà cá nhân, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện tại Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bản chất của vụ án dân sự là giải quyết xung đột lợi ích giữa các bên, không mang tính trừng phạt.
Trong khi đó, vụ án hình sự là vụ việc phát sinh khi có hành vi có dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 và được cơ quan có thẩm quyền khởi tố để điều tra, truy tố, xét xử theo trình tự của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Khác với dân sự, vụ án hình sự nhằm xử lý người phạm tội, bảo vệ trật tự xã hội và lợi ích của Nhà nước.
Các căn cứ để chuyển từ vụ án dân sự sang vụ án hình sự theo quy định của pháp luật
Việc chuyển từ dân sự sang hình sự không mang tính tùy tiện mà phải dựa trên các dấu hiệu cấu thành tội phạm bao gồm khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể.
Khách thể
Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là đối tượng mà các chủ thể hướng tới, tác động vào và cần bảo vệ khi xác lập quan hệ dân sự chẳng hạn:
- Liên quan đến tài sản: Quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng, quyền thừa kế di sản, quyền chuyển giao tài sản…
- Liên quan đến hành vi: Bao gồm các hành động hoặc không hành động mà các chủ thể phải thực hiện khi xác lập quan hệ dân sự như cung cấp dịch vụ, thanh toán, trả nợ, bồi thường…
- Kết quả của hoạt động nghiên cứu, sáng tạo như: quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm âm nhạc…
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại. Theo Bộ luật Hình sự 2015 các quan hệ đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Mặt khách quan
Trong quan hệ dân sự, hành vi vi phạm thường biểu hiện ở việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết, chẳng hạn như không trả nợ đúng hạn hoặc giao hàng không đúng chất lượng. Những hành vi này tuy gây thiệt hại nhưng không nhất thiết mang tính nguy hiểm cho xã hội.
Ngược lại, trong lĩnh vực hình sự hành vi không chỉ dừng lại ở việc vi phạm nghĩa vụ như trong quan hệ dân sự mà còn mang tính nguy hiểm cho xã hội, có hậu quả, mối quan hệ nhân quả và các yếu tố khác như thời gian, địa điểm,..
Hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm. Nếu không có hành vi thì không có tội phạm. Hành vi có thể tồn tại dưới dạng hành động (làm việc bị pháp luật cấm như giết người, cướp tài sản) hoặc không hành động (không thực hiện nghĩa vụ phải làm dù có điều kiện thực hiện, như không cứu giúp người đang nguy hiểm, trốn thuế, trốn nghĩa vụ quân sự).
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi gây ra đối với quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, bao gồm thiệt hại vật chất (có thể đo đếm như thiệt hại tài sản, thương tích, chết người) và thiệt hại tinh thần (không đo đếm được như danh dự, nhân phẩm). Hậu quả càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao.
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là việc hậu quả phải do chính hành vi gây ra. Hành vi phải xảy ra trước và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả. Dựa vào yếu tố này để xác định tội phạm đã hoàn thành hay chưa: tội có cấu thành hình thức hoàn thành khi có hành vi, còn tội có cấu thành vật chất phải có hậu quả thực tế xảy ra.
Ngoài ra, thời gian và địa điểm phạm tội trong một số trường hợp là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm, ví dụ hành vi buôn lậu phải xảy ra qua biên giới hoặc hành vi phạm tội trong khi thi hành công vụ phải xảy ra trong thời gian thực hiện công vụ.
Công cụ, phương tiện và phương pháp phạm tội không phải lúc nào cũng là dấu hiệu bắt buộc, nhưng nếu được quy định trong cấu thành tội phạm hoặc là tình tiết định khung thì phải được chứng minh để xác định tội danh và mức độ trách nhiệm hình sự.
Mặt chủ quan
Trong quan hệ dân sự lỗi có thể là vô ý hoặc cố ý và trong nhiều trường hợp trách nhiệm dân sự vẫn có thể phát sinh không phụ thuộc vào lỗi, đặc biệt trong các trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ hoặc theo thỏa thuận hợp đồng. Do đó, lỗi trong dân sự không phải lúc nào cũng là điều kiện bắt buộc, nhưng vẫn là căn cứ quan trọng để xác định mức độ trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường của các bên.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực hình sự, lỗi là dấu hiệu bắt buộc theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 và thường thể hiện dưới dạng lỗi cố ý hoặc vô ý. Theo đó lỗi cố ý xảy ra khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm, thấy trước hậu quả và mong muốn hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Còn lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội không thấy trước hậu quả dù phải thấy trước hoặc thấy trước nhưng cho rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Chủ thể
Trong quan hệ dân sự, chủ thể chỉ cần có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp. Theo đó căn cứ tại Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 thì “năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” và Điều 16 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”.
Tuy nhiên, để bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chủ thể phải đáp ứng các điều kiện theo Bộ luật Hình sự 2015, cụ thể là phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. Ngoài ra pháp luật hình sự Việt Nam còn quy định pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm trong một số lĩnh vực nhất định. Việc xác định đúng chủ thể giúp đảm bảo rằng chỉ những người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi mới phải chịu trách nhiệm hình sự, tránh việc xử lý oan sai hoặc không đúng đối tượng.
Ví dụ, trong tranh chấp vay tài sản nếu bên vay chỉ mất khả năng thanh toán do hoàn cảnh khách quan thì đó là quan hệ dân sự. Tuy nhiên nếu người vay sử dụng thủ đoạn gian dối, cung cấp thông tin sai sự thật để vay tiền rồi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 và vụ việc sẽ được chuyển sang xử lý theo thủ tục hình sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nếu Tòa án phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và chuyển hồ sơ, tài liệu cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về kiến nghị khởi tố. Sau khi tiếp nhận, nếu có căn cứ theo Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, việc chuyển từ vụ án dân sự sang vụ án hình sự chỉ được thực hiện khi hành vi tranh chấp đã hội đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.
>> Xem thêm: Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật hiện hành
Trên đây là bài viết về căn cứ chuyển từ vụ án dân sự sang vụ án hình sự. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc, vui lòng liên hệ Lawkey hoặc có thể sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi.
Hợp đồng thuê tài sản và hợp đồng mượn tài sản theo quy định hiện nay
Hợp đồng thuê tài sản và hợp đồng mượn tài sản được pháp luật dân sự quy định thế nào? Hai loại hợp đồng này [...]
Thời hạn đại diện quy định trong Bộ luật dân sự 2015
Người đại diện trong quan hệ pháp luật với người được đại diện phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Vậy [...]