Các trường hợp bồi thường thiệt hại khi không có lỗi trong dân sự

Trong pháp luật dân sự lỗi thường là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt chủ thể vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự ngay cả khi không có lỗi. Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây. 

Bồi thường thiệt hại 

Bồi thường thiệt hại được giải thích theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo đó phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại căn cứ tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau: 

Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, luật khác có liên quan quy định khác.

Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định trên.

Các trường hợp phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi 

Pháp luật dân sự Việt Nam cũng ghi nhận một số trường hợp đặc biệt, trong đó chủ thể vẫn phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi. Đây là sự mở rộng trách nhiệm nhằm bảo đảm công bằng và bảo vệ tối đa quyền lợi của người bị thiệt hại

Do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Căn cứ tại Điều 12 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như sau:

Nguồn nguy hiểm cao độ được xác định theo quy định tại Điều 601 của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan.

Ví dụ 1: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.

Ví dụ 2: Vũ khí theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 là nguồn nguy hiểm cao độ.

Người được chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, trừ trường hợp giữa chủ sở hữu và người được giao chiếm hữu, sử dụng có thỏa thuận khác không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường.

Theo đó các thỏa thuận sau đây không trái pháp luật, đạo đức xã hội hoặc không nhằm trốn tránh việc bồi thường:

  • Thỏa thuận cùng nhau liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;
  • Thỏa thuận chủ sở hữu bồi thường thiệt hại trước bằng tài sản hợp pháp, sau đó người được giao chiếm hữu, sử dụng sẽ hoàn trả cho chủ sở hữu khoản tiền đã bồi thường trong trường hợp chủ sở hữu có điều kiện bồi thường.

Trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không đúng quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: Chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xe ô tô nhưng vẫn giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra ngay cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

  • Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

Ví dụ: Khu vực có biển báo là nguồn điện cao thế nguy hiểm chết người nhưng A vẫn vào trộm đồ và bị điện giật chết là trường hợp hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại.

  • Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.

Ví dụ: A đang lái xe ô tô theo đúng Luật Giao thông đường bộ, B lái xe máy theo hướng ngược chiều với A và lấn làn đường của A. Để tránh gây tai nạn cho B và không còn cách nào khác nên A đã lái xe va vào chiếc xe máy thuộc sở hữu của C đang đậu trên lề đường gây thiệt hại cho C. Trường hợp này là tình thế cấp thiết, A không phải bồi thường thiệt hại cho C mà B phải bồi thường thiệt hại cho C vì B đã gây ra tình thế cấp thiết theo khoản 2 Điều 595 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại thì giải quyết như sau:

  • Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp không có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
  • Nếu chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải liên đới bồi thường thiệt hại.

>> Xem thêm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Do làm ô nhiễm môi trường 

Đối với trường hợp gây ô nhiễm môi trường căn cứ tại Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng chủ thể làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường, kể cả khi không có lỗi. Điều này thể hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm khắc phục hậu quả, góp phần bảo vệ môi trường và lợi ích cộng đồng.

Ví dụ: một nhà máy xử lý nước thải đúng quy trình kỹ thuật và đã được cấp phép đầy đủ. Tuy nhiên, do sự cố khách quan trong hệ thống (thiết bị xử lý gặp trục trặc bất ngờ), một lượng nước thải chưa xử lý đã tràn ra sông, làm cá của các hộ nuôi trồng thủy sản xung quanh bị chết hàng loạt. Trong trường hợp này, mặc dù nhà máy không có lỗi cố ý hay vô ý, nhưng vẫn phải bồi thường thiệt hại cho các hộ dân bị ảnh hưởng.

Do súc vật 

Căn cứ tại Điều 603 Bộ luật Dân sự năm 2015 chủ thể phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra khi thuộc các trường hợp sau đây:

Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác. Người chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại; nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

Trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật gây thiệt hại thì người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật phải bồi thường; khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng súc vật có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

Trường hợp súc vật thả rông theo tập quán mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu súc vật đó phải bồi thường theo tập quán nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

Ví dụ: Anh A nuôi một con chó trong nhà nhưng không xích hoặc rọ mõm khi thả ra ngoài. Một ngày, con chó chạy ra đường và cắn anh B đang đi ngang qua, khiến anh B bị thương và phải điều trị. Trong trường hợp này, dù A không trực tiếp gây ra hành vi cắn người, nhưng do A là chủ sở hữu và không quản lý súc vật cẩn thận nên phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh B.

Do cây cối và nhà cửa, công trình xây dưng khác gây ra

Theo quy định tại điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2015, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra được xác định theo hướng không phụ thuộc vào lỗi. Khi cây cối gây thiệt hại, chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc người được giao quản lý phải chịu trách nhiệm bồi thường, bởi họ là người trực tiếp kiểm soát và có nghĩa vụ bảo đảm an toàn đối với tài sản này.

Ví dụ: Ông A có một cây xoài lớn trong sân nhà nhưng đã lâu không cắt tỉa, cây bị mục rỗng bên trong. Trong một ngày trời không có mưa bão, cành cây bất ngờ gãy và rơi xuống trúng xe máy của anh B đang đỗ bên đường, gây hư hỏng nặng. Trong trường hợp này, ông A là chủ sở hữu cây nên phải bồi thường thiệt hại cho anh B, kể cả khi ông A không trực tiếp gây ra sự việc.

Căn cứ tại điều 605 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với nhà cửa và công trình xây dựng, pháp luật cũng quy định tương tự khi các tài sản này gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người sử dụng hoặc người quản lý phải bồi thường, kể cả khi không có lỗi. Trong trường hợp thiệt hại phát sinh từ lỗi của người thi công, như thi công không bảo đảm chất lượng hoặc vi phạm quy chuẩn kỹ thuật, thì người thi công phải liên đới bồi thường cùng với các chủ thể liên quan, nhằm bảo đảm công bằng và nâng cao trách nhiệm trong hoạt động xây dựng.

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 

Căn cứ tại điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:

Đối với người chưa thành niên, pháp luật có sự phân hóa trách nhiệm nhằm phù hợp với mức độ nhận thức và khả năng tài chính. 

Trường hợp người dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ mà người gây thiệt hại có tài sản riêng thì sử dụng tài sản đó để bù phần còn thiếu. 

Trong khi đó, người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải tự bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ thì cha, mẹ có trách nhiệm bồi thường phần còn thiếu.

Đối với người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, pháp luật quy định trách nhiệm trước hết thuộc về tài sản của chính người gây thiệt hại thông qua người giám hộ. Trường hợp tài sản này không đủ thì người giám hộ phải dùng tài sản của mình để bồi thường. Tuy nhiên, nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Quy định này vừa bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại, vừa đảm bảo tính công bằng đối với người giám hộ.

>> Xem thêm: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân 

Trên đây là bài viết về các trường hợp bồi thường thiệt hại khi không có lỗi trong dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu có thắc mắc, vui lòng liên hệ Lawkey để được tư vấn. 

Khách hàng nói về chúng tôi

Tôi rất hài lòng về chất lượng dịch vụ tại LawKey - Chìa khóa pháp luật. Các bạn là đội ngũ luật sư, chuyên gia kế toán và tư vấn viên nhiệt thành, đầy bản lĩnh với nghề nghiệp. Chúc các bạn phát đạt hơn nữa trong tương lai.

Anh Toản - CTO Công ty CP công nghệ phân phối Flanet

Đống Đa, Hà Nội
Mình cảm ơn đội ngũ công ty luật và dịch vụ kế toán LawKey về độ nhiệt tình và tốc độ làm việc. Tôi rất an tâm và tin tưởng khi làm việc với LawKey, đặc biệt là được chủ tịch Hà trực tiếp tư vấn. Chúc các bạn phát triển thịnh vượng và đột phá hơn nữa.

Mr Tô - Founder & CEO MengCha Utd

Đống Đa, Hà Nội
Tôi đã trải nghiệm nhiều dịch vụ luật sư trong quá trình kinh doanh của mình, nhưng thực sự an tâm và hài lòng khi làm bắt đầu làm việc với các bạn LawKey: Các bạn trẻ làm việc rất Nhanh - Chuẩn - Chính xác - Hiệu quả - Đáng tin cậy.

Mr Tiến - Founder & CEO SATC JSC

Ba Đình, Hà Nội
Từ khi khởi nghiệp đến nay gần 30 năm, tôi sử dụng rất nhiều dịch vụ tư vấn luật, tôi đặc biệt hài lòng với dịch vụ mà LawKey cung cấp cho IDJ Group. Chúc cho LawKey ngày càng phát triển và là đối tác quan trọng lâu dài của IDJ Group.

Mr Trần Trọng Hiếu - Chủ tịch IDJ Group

Hà Nội - Việt Nam
Thay mặt Công ty Dương Cafe, tôi xin chân thành cảm ơn đội ngũ luật sư, kế toán của LawKey. Thực sự yên tâm khi sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật và kế toán thuế bên các bạn. Chúc các bạn phát triển hơn, phục vụ tốt hơn cho cộng đồng doanh nghiệp.

Mr Dương - CEO Dương Cafe

Hà Nội
Tại LawKey, đội ngũ của các bạn rất chuyên nghiệp. Các bạn không chỉ cho thấy sự thân thiện mà còn chủ động tìm hiểu giúp đỡ tôi trong công việc. Tôi tin tưởng dịch vụ luật và kế toán của các bạn.  

Mr Hưng - CEO Tư vấn du học Bạn Đồng Hành

Việt Nam

Khách hàng tiêu biểu