Trách nhiệm pháp lý khi trí tuệ nhân tạo gây thiệt hại
Hiện nay, trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển nên pháp luật cũng cần kịp thời điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Vậy khi hệ thống trí tuệ nhân tạo gây thiệt hại thì chủ thể nào sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý?.
Khái niệm trí tuệ nhân tạo
Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, trí tuệ nhân tạo được hiểu là việc thực hiện bằng điện tử các năng lực trí tuệ của con người, bao gồm học tập, suy luận, nhận thức, phán đoán và hiểu ngôn ngữ tự nhiên.
Có thể hiểu, trí tuệ nhân tạo là công nghệ cho phép máy móc hoặc hệ thống phần mềm mô phỏng khả năng tư duy và xử lý thông tin tương tự con người nhằm tự động thực hiện các nhiệm vụ hoặc hỗ trợ con người trong quá trình làm việc và ra quyết định.
Quy định các hành vi bị nghiêm cấm và trách nhiệm pháp lý
Pháp luật hiện nay đã quy định cụ thể các hành vi bị nghiêm cấm cũng như trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể như sau
Các hành vi bị nghiêm cấm
Căn cứ Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 quy định các hành vi bị nghiêm cấm như sau:
– Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
– Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích sau đây:
a) Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật;
b) Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người;
c) Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác;
d) Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
– Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
– Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật này.
– Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
– Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.
Các quy định này góp phần tạo hành lang pháp lý nhằm kiểm soát rủi ro và hạn chế những hậu quả tiêu cực do AI gây ra.
Xem thêm: Các hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI)
Xử lý vi phạm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Căn cứ Điều 29 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của pháp luật liên quan đến trí tuệ nhân tạo tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp gây thiệt hại thì phải thực hiện trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.
Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao được quản lý, vận hành và sử dụng đúng quy định nhưng vẫn phát sinh thiệt hại thì bên triển khai phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Sau khi bồi thường, bên triển khai yêu cầu nhà cung cấp, nhà phát triển hoặc các bên liên quan hoàn trả khoản tiền bồi thường nếu có thỏa thuận giữa các bên.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật trí tuệ nhân tạo 2025 được miễn trừ trong các trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp hệ thống trí tuệ nhân tạo bị bên thứ ba xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì bên thứ ba phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trường hợp bên triển khai, nhà cung cấp có lỗi trong việc để hệ thống bị xâm nhập, chiếm quyền điều khiển hoặc can thiệp trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự.
Các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do trí tuệ nhân tạo gây ra hiện nay được dẫn chiếu áp dụng cùng với các quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Theo Điều 13 Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm thì được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Bên cạnh đó, Điều 170 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định chủ sở hữu tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc quyền khác đối với tài sản phải bồi thường thiệt hại.
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay đã xây dựng cơ sở pháp lý tương đối rõ ràng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hệ thống trí tuệ nhân tạo gây ra, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cũng như nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình phát triển và sử dụng AI.
Trên đây là bài viết về “Trách nhiệm pháp lý khi trí tuệ nhân tạo gây thiệt hại”, nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey hoặc sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động 2019
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong Bộ luật lao động 2019 có những điểm mới hơn so với Bộ luật lao động [...]
Nguyên nhân, hệ quả và biện pháp giải quyết người có hai hay nhiều quốc tịch
Tình trạng người có hai hay nhiều quốc tịch là hiện tượng pháp lý phổ biến trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Bên [...]