Trách nhiệm đối với hành vi quảng cáo sai sự thật mới nhất
Pháp luật quy định như thế nào về hành vi quảng cáo sai sự thật. Nếu cá nhân, tổ chức quảng cáo sai sự thật đối với sản phẩm trên mạng xã hội thì phải xử lý như thế nào. Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Khái niệm
Căn cứ tại khoản 1 Điều 2 Luật Quảng cáo 2012 sửa đổi, bổ sung 2025 quy định quảng cáo là việc sử dụng người, phương tiện nhằm giới thiệu đến người tiếp nhận quảng cáo về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.”;
Các hành vi bị cấm trong hoạt động quảng cáo
Căn cứ tại Điều 8 Luật Quảng cáo 2012 quy định các hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo bao gồm:
– Quảng cáo những sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 7 Luật Quảng Cáo 2012
– Quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng.
– Quảng cáo trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội
– Quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội
– Quảng cáo gây ảnh hưởng xấu đến sự tôn nghiêm đối với Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Đảng kỳ, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
– Quảng cáo có tính chất kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, định kiến về giới, về người khuyết tật.
– Quảng cáo xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân.
– Quảng cáo có sử dụng hình ảnh, lời nói, chữ viết của cá nhân khi chưa được cá nhân đó đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.
– Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố.
– Quảng cáo so sánh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại của tổ chức, cá nhân khác nhưng không có tài liệu hợp pháp chứng minh
– Quảng cáo có sử dụng các từ ngữ “nhất”, “duy nhất”, “tốt nhất”, “số một” hoặc từ ngữ có ý nghĩa tương tự mà không có tài liệu hợp pháp chứng minh theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
– Quảng cáo có nội dung cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của pháp luật về cạnh tranh
– Quảng cáo tạo cho trẻ em có suy nghĩ, lời nói, hành động trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục; gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, an toàn hoặc sự phát triển bình thường của trẻ em.
– Ép buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện quảng cáo hoặc tiếp nhận quảng cáo trái ý muốn
– Treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng.
Trách nhiệm đối với quảng cáo sai sự thật
Theo đó tổ chức, cá nhân quảng cáo sai sự thật sẽ phải bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
Xử phạt hành chính
Căn cứ tại khoản 5 Điều 50 Nghị định 87/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 15/05/2026) thì trường hợp hành vi quảng cáo sản phẩm sai sự thật trên mạng xã hội chưa đến mức chịu trách nhiệm hình sự thì cá nhân vi phạm có thể bị xử phạt hành chính với số tiền từ 80.000.000 – 100.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này, khoản 2 Điều 53, khoản 1 Điều 69, điểm b khoản 4 điều 70, khoản 4 Điều 71, điểm a khoản 1 Điều 79, điểm c khoản 1 Điều 80 Nghị định 87/2026/NĐ-CP
Bên cạnh đó còn biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc thu hồi sản phẩm báo in, tạp chí in quảng cáo và buộc cải chính thông tin quy định tại điểm a,c khoản 7 Điều 50 Nghị định 87/2026/NĐ-CP
Ngoài ra buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền bằng giá bán sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trong trường hợp đã bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kể từ thời điểm thực hiện quảng cáo tại điểm d khoản 7 Điều 50 Nghị định 87/2026/NĐ-CP.
Lưu ý: Mức phạt trên đối với cá nhân vi phạm, trường hợp tổ chức vi phạm thì phạt gấp đôi
Theo đó, Nghị định 38/2022/NĐ-CP (hết hiệu lực từ ngày 15/05/2026) quy định tại khoản 5 Điều 34 mức phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi quảng cáo sản phẩm sai sự thật trên mạng xã hội. Điều này cho thấy Nghị định 87/2026/NĐ-CP đã nâng mức xử phạt đối với hành vi này theo hướng nghiêm khắc hơn nhằm tăng tính răn đe và phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Trách nhiệm hình sự
Trường hợp hành vi quảng cáo sản phẩm sai sự thật trên mạng xã hội đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quảng cáo gian dối theo Điều 197 Bộ luật Hình sự 2015 với mức phạt như sau:
– Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
– Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
Trên đây là bài viết về “Trách nhiệm đối với hành vi quảng cáo sai sự thật mới nhất”. Lawkey gửi đến bạn đọc nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey bạn nhé!.
Xem thêm: Quảng cáo sai về công dụng của TPCN bị xử lý thế nào?
Tổng hợp những điểm mới trong Bộ luật lao động 2019
Bộ luật lao động 2019 sẽ chính thức có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2021 với nhiều điểm mới nổi bật. Dưới [...]
Tiêu chí xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường
Vị trí thống lĩnh thị trường là một trong những vị trí mà bất cứ doanh nghiệp nào đều mong muốn có được. Vậy theo [...]