Những tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải
Hòa giải là gì? Theo quy định pháp luật các tranh chấp nào bắt buộc phải tiến hành hòa giải? Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Khái niệm hòa giải
Theo quy định của Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 hòa giải trong tố tụng dân sự được hiểu là quá trình mà Tòa án đảm nhận trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Ngoài Tòa án việc hòa giải còn do tổ hòa giải ở cơ sở, UBND cấp xã, các trung tâm hòa giải, hòa giải viên và một số tổ chức khác (như công đoàn trong lao động) thực hiện tùy theo từng lĩnh vực pháp luật. Các chủ thể này tham gia hòa giải nhằm giải quyết tranh chấp trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận, góp phần giảm tải cho Tòa án và giữ gìn quan hệ xã hội ổn định.
Những tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật
Các tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải bao gồm: Tranh chấp đất đai, tranh chấp trong lao động và tranh chấp ly hôn
Tranh chấp đất đai
Căn cứ tại Điều 235 Luật Đất đai 2024 nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải. Hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp căn cứ tại điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP được thực hiện như sau:
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn, Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản cho các bên tranh chấp đất đai và Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất tranh chấp về việc thụ lý đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai, trường hợp không thụ lý thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do;
- Thẩm tra, xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;
- Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải quy định tại điểm b khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời người đại diện cộng đồng dân cư quy định tại khoản 3 Điều 6 Luật Đất đai 2024; người có uy tín trong dòng họ ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc, công chức Tư pháp – hộ tịch cấp xã; đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã; cá nhân, tổ chức khác có liên quan tham gia Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai;
- Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.
- Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm các nội dung: thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo kết quả xác minh; ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.
- Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp, trường hợp biên bản gồm nhiều trang thì phải ký vào từng trang biên bản, đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã và gửi ngay cho các bên tranh chấp, đồng thời lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.
- Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét, giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
- Trường hợp hòa giải không thành thì Ủy ban nhân dân cấp xã hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.
- Kinh phí hỗ trợ cho công tác hòa giải tranh chấp đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Đối với trường hợp hòa giải tranh chấp đất đai quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 235 Luật Đất đai 2024 này mà hòa giải thành và có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích, người sử dụng đất thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, các bên tham gia hòa giải phải gửi văn bản công nhận kết quả hòa giải thành đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định
>> Xem thêm: Tranh chấp đất đai là gì? Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất theo Luật Đất đai 2024
Tranh chấp trong lao động
Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động. Những tranh chấp buộc phải hòa giải trong tranh chấp lao động gồm:
Tranh chấp lao động cá nhân
Theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
- Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
- Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
- Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
- Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
- Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.
Tranh chấp lao động tập thể về quyền
Căn cứ tại Khoản 2 Điều 191 Bộ luật Lao động 2019 quy định, đối với những “Tranh chấp lao động tập thể về quyền phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết”.
Tại khoản 2 Điều 179 Bộ luật Lao động 2019 quy định: “Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động”. Theo đó, bao gồm các tranh chấp sau đây:
- Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác;
- Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động;
- Khi người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động;
- Khi người sử dụng lao động can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động;
- Khi người sử dụng lao động vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí.
Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích
Theo khoản 2 Điều 195 Bộ luật Lao động 2019 quy định tranh chấp lao động tập thể về lợi ích phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết hoặc tiến hành thủ tục đình công.
Tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật lao động 2019 quy định, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm:
- Tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể;
- Khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
>> Xem thêm: Các tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án
Tranh chấp trong ly hôn
Theo Điều 52 và 54 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, hòa giải trong thủ tục ly hôn được quy định như sau:
- Hòa giải tại cơ sở nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
- Hòa giải tại Tòa án sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Như vậy, có thể thấy hòa giải tại Tòa án là thủ tục bắt buộc phải tiến hành trước khi giải quyết thủ tục ly hôn, trừ những trường hợp không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.
Trong quá trình hòa giải ly hôn, Tòa án sẽ tiến hành hòa giải theo hướng hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ, nghĩa là Thẩm phán được giao nhiệm vụ sẽ phân tích cho vợ chồng hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, nghĩa vụ với con… để từ đó hàn gắn, gắn kết vợ chồng.
Trên đây là bài viết về “Những tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải”. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc vui lòng liên hệ Lawkey hoặc có thể sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi.
Di chúc viết tay có hợp pháp không?
Di chúc viết tay có hợp pháp không? Hãy cùng LawKey tìm hiểu qua bài viết dưới đây. Hình thức di chúc bằng văn bản Tại [...]
Chủ nhà thế chấp căn hộ chưa bàn giao vay ngân hàng được không?
Khi gặp khó khăn tài chính, nhiều người nghĩ đến việc thế chấp căn nhà mới mua chưa bàn giao. Vậy chủ nhà thế chấp [...]