Quy định về vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi
Pháp luật hiện hành quy định rất chặt chẽ về độ tuổi lao động tối thiểu, các công việc được phép thực hiện cũng như các chế tài xử lý đối với hành vi sử dụng lao động dưới 16 tuổi trái quy định. Vậy pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Quy định pháp luật về độ tuổi lao động tối thiểu
Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ các trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép.
Căn cứ tại Điều 143 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định lao động chưa thành niên là người lao động chưa đủ 18 tuổi. Tùy theo từng độ tuổi mà pháp luật có những giới hạn khác nhau trong việc sử dụng lao động:
– Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không được làm các công việc hoặc làm việc tại những nơi bị pháp luật cấm.
– Người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi chỉ được làm những công việc nhẹ theo danh mục do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
– Người chưa đủ 13 tuổi chỉ được làm một số công việc đặc thù theo quy định của pháp luật và phải đáp ứng các điều kiện nghiêm ngặt nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của trẻ em.
Như vậy, mặc dù độ tuổi lao động tối thiểu là đủ 15 tuổi nhưng trong một số trường hợp nhất định, người dưới 15 tuổi vẫn có thể làm việc nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định.
Các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên
Nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện của người chưa thành niên, căn cứ tại Điều 147 Bộ luật Lao động năm 2019 nghiêm cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện các công việc nặng nhọc, độc hại hoặc tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và nhân cách. Các công việc bị cấm bao gồm:
– Mang, vác hoặc nâng vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
– Sản xuất, kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá hoặc các chất gây nghiện;
– Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
– Bảo trì, bảo dưỡng máy móc, thiết bị;
– Phá dỡ công trình xây dựng;
– Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;
– Lặn biển, đánh bắt thủy sản xa bờ;
– Các công việc khác có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, trí tuệ và nhân cách của người chưa thành niên.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng cấm sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm việc tại các địa điểm như:
– Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động hoặc đường hầm;
– Công trường xây dựng;
– Cơ sở giết mổ gia súc;
– Sòng bạc, quán bar, vũ trường, karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở tắm hơi, cơ sở xoa bóp;
– Điểm kinh doanh xổ số, dịch vụ trò chơi điện tử;
– Những nơi làm việc khác có nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực, trí lực và nhân cách của người chưa thành niên.
Danh mục cụ thể về các công việc và nơi làm việc gây tổn hại đến sự phát triển của người chưa thành niên được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 09/2020/TT-BLĐTBXH.
Hình thức phạt khi vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi
Pháp luật hiện hành quy định nhiều chế tài khác nhau nhằm xử lý các hành vi sử dụng lao động chưa thành niên trái quy định. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, cá nhân hoặc tổ chức vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Xử phạt hành chính
Căn cứ Điều 29 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP, người sử dụng lao động vi phạm các quy định về sử dụng lao động chưa thành niên có thể bị xử phạt hành chính với các mức phạt khác nhau.
Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi không lập sổ theo dõi riêng hoặc có lập sổ theo dõi riêng nhưng không ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 144 của Bộ luật Lao động khi sử dụng lao động chưa thành niên hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
– Sử dụng lao động chưa thành niên mà chưa có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên đó;
– Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm việc mà: giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó; bố trí thời giờ làm việc ảnh hưởng đến thời gian học tập của người chưa đủ 15 tuổi; không có giấy khám sức khỏe của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền xác nhận sức khỏe của người chưa đủ 15 tuổi phù hợp với công việc; không tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ ít nhất 01 lần trong 06 tháng hoặc không bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi;
– Sử dụng lao động chưa thành niên làm việc quá thời giờ làm việc quy định tại Điều 146 của Bộ luật Lao động;
– Sử dụng người chưa đủ 15 tuổi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm;
– Sử dụng người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm thêm giờ hoặc làm việc vào ban đêm trong những nghề, công việc không được pháp luật cho phép.
Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
– Sử dụng người từ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều 143 của Bộ luật Lao động;
– Sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật Lao động hoặc sử dụng người chưa đủ 13 tuổi làm công việc được pháp luật cho phép mà chưa được sự đồng ý của cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
– Sử dụng người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi làm các công việc bị cấm hoặc làm việc tại nơi làm việc bị cấm quy định tại Điều 147 của Bộ luật Lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Truy cứu trách nhiệm hình sự
Bên cạnh chế tài hành chính, người có hành vi sử dụng lao động dưới 16 tuổi trái pháp luật còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi theo Điều 296 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Theo đó, người nào sử dụng người lao động dưới 16 tuổi làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại thuộc danh mục do Nhà nước quy định và thuộc các trường hợp luật định như đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm hoặc gây thương tích cho người lao động thì có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Trường hợp phạm tội nhiều lần, làm chết người hoặc gây thương tích nghiêm trọng cho người lao động thì có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Nếu làm chết từ hai người trở lên hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác thì mức hình phạt có thể từ 05 năm đến 12 năm tù.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trẻ em và người chưa thành niên là nhóm đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt trong quan hệ lao động. Vì vậy, pháp luật Việt Nam quy định rất chặt chẽ về độ tuổi lao động tối thiểu, điều kiện làm việc, các công việc bị cấm cũng như chế tài xử lý nghiêm khắc đối với hành vi sử dụng lao động dưới 16 tuổi trái quy định. Người sử dụng lao động cần tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động chưa thành niên, đồng thời tránh các rủi ro pháp lý có thể phát sinh.
Trên đây là bài viết về “Quy định về vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi”. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey bạn nhé!.
Cha mẹ có phải chịu trách nhiệm khi con dưới 15 tuổi vi phạm pháp luật?
Việc vi phạm pháp luật có thể xảy ra ở mọi độ tuổi. Vậy khi trẻ dưới 15 tuổi vi phạm pháp luật cha mẹ có phải chịu [...]
Cấm người phạm tội đảm nhiệm chức vụ trong hình sự là gì?
Cấm người phạm tội đảm nhiệm chức vụ là gì? Cấm người phạm tội đảm nhiệm chức vụ là hình phạt chính hay hình [...]