Phân tích các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật
Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định như thế nào về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, được áp dụng trong các trường hợp nào, thẩm quyền áp dụng. Hãy cùng LawKey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Căn cứ tại Điều 109 Bộ Luật tố tụng Hình sự (BLTTHS) các biện pháp ngăn chặn được hiểu là các biện pháp cưỡng chế do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án.
Theo đó có 8 biện pháp ngăn chặn bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người (bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam), tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
Quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
Khi thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được giữ người trong trường hợp khẩn cấp căn cứ tại khoản 1 điều 110 BLTTHS 2015 như sau:
- Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
- Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp căn cứ tại khoản 2 điều 110 BLTTHS 2015 được sửa đổi bổ sung tại khoản 11 điều 1 Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều luật của BLTTHS như sau:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 37 BLTTHS, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của BLTTHS, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
- Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
Bắt người bao gồm: bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
Bắt người phạm tội quả tang căn cứ tại Điều 111 BLTTHS năm 2015
Trường hợp bắt người phạm tội quả tang trong trường hợp đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt
Người có quyền bắt người phạm tội quả tang: bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.
Bắt người đang bị truy nã căn cứ tại Điều 112 BLTTHS 2015
Trường hợp bắt người đang bị truy nã trong trường hợp khi người đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã do bỏ trốn hoặc trốn tránh trách nhiệm hình sự.
Người có quyền bắt người đang bị truy nã: bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam căn cứ Điều 113 BLTTHS năm 2015
Trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam khi việc bắt giữ người đã bị khởi tố hoặc đưa ra xét xử nhằm áp dụng biện pháp tạm giam khi có căn cứ cho rằng họ có thể bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc cản trở hoạt động tố tụng; việc bắt phải có lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền và được phê chuẩn theo quy định của pháp luật.
Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam căn cứ tại khoản 1 Điều 113 BLTTHS 2015 được sửa đổi bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 như sau:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều 37 BLTTHS, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của BLTTHS, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Theo đó trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành;
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.
Xem thêm: Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt?
Tạm giữ
Căn cứ quy định tại khoản 1 điều 117 BLTTHS 2015 biện pháp tạm giữ áp dụng đối với các trường hợp đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 điều 110 của BLTTHS năm 2015 như trên.
Tạm giam
Căn cứ quy định tại khoản 1,2 điều 119 BLTTHS năm 2015 biện pháp tạm giam áp dụng với có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
- Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
- Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
- Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Ngoài ra tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
Bên cạnh đó đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
- Tiếp tục phạm tội;
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
- Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 điều 113 của BLTTHS được sửa đổi bổ sung tại khoản 12 điều 1 Luật số 99/2025/QH15 như trên.
Bảo lĩnh
Căn cứ tại khoản 1 Điều 121 BLTTHS năm 2015 bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS được sửa đổi bổ sung tại khoản 12 điều 1 Luật số 99/2025/QH15 (như trên), theo đó Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của BTTHS phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
Đặt tiền để bảo đảm
Căn cứ tại khoản 1 Điều 122 BLTTHS 2015 đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS được sửa đổi bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 (như trên), Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền để bảo đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của BLTTHS phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
Cấm đi khỏi nơi cư trú
Căn cứ tại khoản 1 Điều 123 BLTTHS 2015 cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS được sửa đổi bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 (như trên), Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tạm hoãn xuất cảnh
Các trường hợp áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh căn cứ quy định khoản 1 Điều 124 BLTTHS 2015 khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn:
- Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;
- Bị can, bị cáo.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của BLTTHS được sửa đổi bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Luật số 99/2025/QH15 (như trên) , Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của BLTTHS phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trước khi thi hành.
Trên đây là bài viết về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc, vui lòng xin liên hệ Lawkey hoặc sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi.
Xem thêm: Hủy bỏ hoặc thây thế biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Hành vi mua bán hóa đơn bị xử lý như thế nào
Hành vi mua hóa đơn là trái pháp luật. Hành vi mua bán hoá đơn có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm [...]
Mẹ giết con do trầm cảm sau sinh có phải chịu TNHS không?
Trầm cảm là tình trạng thường gặp với người mẹ sau khi sinh con. Vậy việc mẹ giết con do trầm cảm sau sinh có phải chịu [...]