Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
Trong thực tiễn người chưa thành niên gây thiệt hại thì bồi thường như thế nào? như thế nào là người chưa thành niên. Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Khái niệm
Khái niệm người chưa thành niên và bồi thường thiệt hại được pháp luật quy định như sau:
Khái niệm người chưa thành niên
Căn cứ tại khoản 1 điều 21 BLDS năm 2015 quy định “người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”
Theo đó tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 trẻ em là đối tượng có độ tuổi dưới mười sáu tuổi.
Có thể hiểu người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, và chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên
Khái niệm bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại được giải thích theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Theo đó tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định như sau: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự 2015, luật khác có liên quan quy định khác”.
Như vậy bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên thực hiện hành vi gây ra thiệt hại bồi thường các tổn thất về tài sản và tinh thần cho bên bị thiệt hại.
Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
Pháp luật quy định các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể như sau:
Các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Có thiệt hại thực tế xảy ra, đây là điều kiện tiên quyết để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu không có thiệt hại xảy ra, không thể phát sinh trách nhiệm bồi thường. Theo đó Điều 361 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần”.
- Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm.
- Thiệt hại về tinh thần là tổn thất tinh thần do bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác mà chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải chịu và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất đó.
Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật, gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Hành vi trái pháp luật đó có thể do pháp luật cấm thực hiện hoặc yêu cầu thực hiện nhưng chủ thể đã không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng thực hiện không đúng, không đầy đủ nên đã gây thiệt hại.
Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, cụ thể là điểm c Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao có quy định: “Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại”.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể trong trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ
Căn cứ tại khoản 2 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ như sau:
Đối với thiệt hại do người chưa đủ 15 tuổi gây ra mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
Đối với thiệt hại do con từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người giám hộ và người được giám hộ
Theo quy định tại khoản 3 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Như vậy người giám hộ chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản của mình khi thỏa mãn điều kiện (I) người chưa thành niên được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường. (II) người giám hộ có lỗi trong việc giám hộ.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà trường
Theo quy định tại Điều 599 Bộ luât Dân sự 2015 người chưa đủ 15 tuổi trong thời gian trường học trực tiếp quản lý mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra. Nếu trường học chứng minh được mình không có lỗi trong quản lý thì không phải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ của người dưới mười lăm tuổi, phải bồi thường.
>> Xem thêm: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân
Trên đây là bài viết về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra” theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nếu có thắc mắc, vui lòng liên hệ Lawkey hoặc sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn của chúng tôi.
Chuyển giao người giám hộ theo quy định của pháp luật
Trong những trường hợp mà việc giám hộ của người giám hộ không tiếp tục trên thực tế nữa thì phải làm thủ tục [...]
Giao dịch dân sự bị đe dọa, lừa dối, cưỡng ép có vô hiệu không?
Việc các chủ thể xác lập giao dịch dân sự vi phạm các điều cấm của luật sẽ có khả năng bị vô hiệu. Vậy giao dịch [...]