Các lỗi thường gặp khi làm đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện là gì? Khi viết đơn khởi kiện thường mắc phải những lỗi gì theo quy định pháp luật Việt Nam. Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Khái niệm đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện là văn bản, trong đó, đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền hoặc lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại.
Trong tố tụng hình sự, đơn khởi kiện được dùng với nghĩa là yêu cầu của người bị hại về việc khởi tố vụ án hình sự để bảo vệ lợi ích của mình bị tội phạm xâm hại,
Trong tố tụng dân sự, đơn khởi kiện là một cách thức để đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình.
Theo quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015 về hình thức và nội dung của đơn khởi kiện, đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung như: ngày, tháng, năm; tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết; thông tin của người khởi kiện và người bị kiện; nội dung và yêu cầu khởi kiện; danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo…
Các lỗi thường gặp khi làm đơn khởi kiện
Trên thực tế nhiều đương sự vẫn mắc phải những sai sót khi soạn thảo và nộp đơn khởi kiện, các lỗi thường gặp khi làm đơn khởi kiện như sau:
Lỗi về thông tin
Một trong những lỗi cơ bản nhất là thiếu thông tin cá nhân của nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Căn cứ theo khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 yêu cầu rõ trong đơn khởi kiện phải ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, số điện thoại, fax hoặc email (nếu có) của các bên.
Nhiều trường hợp, nguyên đơn chỉ ghi tên mà không ghi địa chỉ cụ thể hoặc cung cấp địa chỉ sai, khiến tòa án không thể tống đạt văn bản tố tụng. Đối với bị đơn hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nếu không xác định chính xác nơi cư trú hoặc làm việc thì tòa án cũng khó thụ lý vụ án.
Từ ngày 01/7/2025 theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hệ thống Tòa án nhân dân đã được tổ chức sắp xếp lại theo mô hình mới. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều người khi làm đơn khởi kiện vẫn nhầm lẫn, ghi sai tên cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Lỗi về nội dung của đơn khởi kiện
Người khởi kiện nhiều khi chỉ viết chung chung “yêu cầu Tòa án giải quyết công bằng” hoặc “yêu cầu bảo vệ quyền lợi” mà không xác định cụ thể yêu cầu cần tòa án giải quyết (bồi thường, trả tài sản, chấm dứt hành vi vi phạm…).
Theo quy định tại điểm g khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015 yêu cầu khởi kiện phải cụ thể và rõ ràng về quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm cũng như những vấn đề cụ thể yêu cầu tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bên cạnh đơn khởi kiện cần ngắn gọn, súc tích nhưng phải đầy đủ nội dung bắt buộc. Việc viết lan man, trình bày cảm tính hoặc bỏ sót thông tin quan trọng đều làm cho đơn thiếu tính thuyết phục và có thể không đáp ứng yêu cầu về hình thức.
Không chỉ thế nhiều người khởi kiện còn ghi sai giá trị của đối tượng tranh chấp hoặc các số liệu liên quan, việc ghi sai như vậy khiến cho đơn khởi kiện không phản ánh đúng bản chất và giá trị thực tế của vụ việc dẫn đến những hệ quả pháp lý nghiêm trọng toà án có thể xác định nhầm mức án phí, nhầm thẩm quyền giải quyết, đồng thời gây khó khăn trong quá trình xem xét chứng cứ và giải quyết vụ án.
Lỗi về thẩm quyền và thủ tục
Một trong những nguyên nhân phổ biến khiến đơn khởi kiện của đương sự bị tòa án trả lại hoặc yêu cầu bổ sung chính là việc xác định sai thẩm quyền của tòa án. Theo quy định tại Điều 39 BLTTDS 2015 về thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ được xác định dựa trên nơi cư trú, làm việc của bị đơn đối với cá nhân, hoặc nơi có trụ sở chính đối với cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, nhiều người khởi kiện thường nhầm lẫn khi nộp đơn tại nơi mình cư trú hoặc làm việc, thay vì tại tòa án có thẩm quyền.
Pháp luật còn đặt ra những quy định riêng về thẩm quyền theo lãnh thổ đối với một số loại vụ việc đặc biệt. Theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì chỉ tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết. Không ít trường hợp nguyên đơn vẫn nộp đơn tại tòa án nơi mình cư trú, trong khi quy định bắt buộc phải nộp tại tòa án nơi có tài sản tranh chấp, dẫn đến việc đơn không được chấp nhận. Đây là một lỗi điển hình phản ánh sự thiếu hiểu biết pháp luật của người dân khi tự mình viết đơn khởi kiện.
Một lỗi thủ tục khác thường gặp là không thực hiện đúng các bước tiền tố tụng, cụ thể là thủ tục hòa giải bắt buộc. Trong lĩnh vực tranh chấp đất đai, tại khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai: “Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp…”. Theo đó đối với một số loại tranh chấp đất đai mà theo luật quy định phải thực hiện hòa giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp mà chưa được hòa giải thì tòa án sẽ xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 để trả lại đơn vì chưa đủ điều kiện khởi kiện.
Việc bỏ qua bước hòa giải không chỉ vi phạm thủ tục, mà còn thể hiện sự thiếu chuẩn bị kỹ lưỡng, gây ra hậu quả pháp lý bất lợi cho nguyên đơn. Bên cạnh đất đai, ở một số lĩnh vực khác như lao động hay thương mại, pháp luật cũng quy định một số loại tranh chấp phải thông qua hòa giải hoặc thủ tục đặc biệt khác trước khi khởi kiện.
>> Xem thêm: Những tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải
Lỗi về chứng cứ và giấy tờ kèm theo
Theo Khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 trong đơn khởi kiện nguyên đơn phải liệt kê và gửi kèm theo những tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều đương sự thường chỉ tập trung vào việc viết đơn mà chưa quan tâm đầy đủ đến việc chuẩn bị tài liệu chứng minh. Việc không nộp hoặc nộp không đủ chứng cứ sẽ khiến Tòa án gặp khó khăn trong việc xác minh tính hợp pháp, hợp lý của yêu cầu khởi kiện. Hệ quả là vụ án có thể không được thụ lý hoặc bị kéo dài do yêu cầu bổ sung chứng cứ.
Căn cứ khoản 1, Điều 193 BLTTDS 2015 nếu đơn khởi kiện hoặc hồ sơ kèm theo chưa đáp ứng đủ yêu cầu, Tòa án sẽ thông báo để người khởi kiện sửa đổi, bổ sung trong thời hạn Thẩm phán ấn định, không quá 01 tháng và gia hạn không quá 15 ngày đối với các trường hợp đặc biệt. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người không chú ý đến thời hạn này, hoặc chậm trễ, hoặc bổ sung không đầy đủ, dẫn đến việc Tòa án trả lại đơn. Đây là lỗi thủ tục thể hiện sự thiếu trách nhiệm trong việc theo dõi tiến độ và quy trình tố tụng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn.
Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Khi đã hết thời hiệu, Tòa án có quyền từ chối thụ lý đơn vì không đủ điều kiện khởi kiện. Lỗi này thường xuất phát từ việc người khởi kiện không nắm rõ hoặc chủ quan trong việc tính toán thời hạn. Hậu quả của việc nộp đơn quá hạn là quyền lợi hợp pháp bị bỏ lỡ và không còn được pháp luật bảo vệ thông qua con đường tố tụng.
>> Xem thêm: Có được ủy quyền cho người khác ký và nộp đơn khởi kiện không?
Trên đây là bài viết về “Các lỗi thường gặp khi làm đơn khởi kiện”. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey hoặc sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi.
Người làm chứng trong luật tố tụng hình sự
Người làm chứng bao gồm những ai? Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng được quy định như thế nào trong Bộ luật [...]
Dịch vụ đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân
Việc thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân hiện nay được thực hiện như thế nào? Sau đây Lawkey gửi tới quý khách hàng các [...]