Đưa thông tin, bí mật đời tư của người khác lên mạng xã hội bị xử phạt như thế nào?
Không ít trường hợp cá nhân tự ý đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân hoặc bí mật đời tư của người khác lên các nền tảng mạng xã hội khác mà không được sự đồng ý của chủ thể thông tin. Vậy người đưa thông tin, bí mật đời tư của người khác lên mạng xã hội sẽ bị xử lý như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Xử phạt vi phạm hành chính
Trường hợp hành vi tiết lộ, đăng tải hoặc phát tán thông tin, bí mật đời tư của người khác trên mạng xã hội chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 95 Nghị định số 174/2026/NĐ-CP.
Theo đó, người sử dụng mạng xã hội có thể bị xử phạt như sau:
– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân hoặc thực hiện các hành vi vi phạm khác .
– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi:
- Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân hoặc bí mật khác khi chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền, cá nhân vi phạm còn phải áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, bao gồm:
- Buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật hoặc thông tin sai sự thật đã đăng tải;
- Buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung trên mạng xã hội trong trường hợp thuộc diện bị áp dụng theo quy định.
Như vậy, việc tự ý công khai thông tin, hình ảnh hoặc bí mật đời tư của người khác trên mạng xã hội có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt lên đến 50 triệu đồng, đồng thời buộc phải gỡ bỏ nội dung vi phạm.
Truy cứu trách nhiệm hình sự
Nếu hành vi xâm phạm bí mật đời tư gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét xử lý về một trong các tội sau:
Tội làm nhục người khác
Người nào có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, đặc biệt thông qua mạng xã hội hoặc phương tiện điện tử, có thể bị xử lý về Tội làm nhục người khác. Theo Điều 155 Bộ luật Hình sự:
– Người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
– Trường hợp phạm tội có các tình tiết tăng nặng như sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông để thực hiện hành vi, phạm tội nhiều lần hoặc gây rối loạn tâm thần cho nạn nhân thì có thể bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
– Nếu làm nạn nhân bị rối loạn tâm thần từ 46% trở lên hoặc khiến nạn nhân tự sát thì mức hình phạt có thể lên đến 05 năm tù.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
Trường hợp người vi phạm tự ý công khai hóa, phát tán hoặc sử dụng trái phép thông tin riêng hợp pháp của cá nhân trên mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, gây thiệt hại hoặc thu lợi bất chính theo quy định của pháp luật thì có thể bị xử lý về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông. Theo Điều 288 Bộ luật Hình sự:
– Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Trường hợp phạm tội có tổ chức, thu lợi bất chính lớn, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng hoặc xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị hại tự sát thì có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Trong một số trường hợp, việc lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền sử dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có thể bị xem xét xử lý theo Điều 331 Bộ luật Hình sự như sau:
– Người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
– Nếu hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình là quyền cơ bản của mỗi cá nhân, được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, mọi hành vi tự ý đăng tải, phát tán thông tin, hình ảnh hoặc bí mật đời tư của người khác lên mạng xã hội mà không được sự đồng ý của họ đều có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Do đó, mỗi cá nhân cần thận trọng khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên không gian mạng; đồng thời tôn trọng quyền về đời sống riêng tư, danh dự, nhân phẩm và bí mật cá nhân của người khác để tránh những hậu quả pháp lý.
Trên đây là bài viết về “Đưa thông tin, bí mật đời tư của người khác lên mạng xã hội bị xử phạt như thế nào?”, nếu còn vấn đề gì thắc hãy liên hệ Lawkey để được giải đáp kịp thời và chính xác.
Xem thêm: Những thông tin, bí mật đời tư nào là dữ liệu cá nhân được pháp luật bảo vệ?
Mức phạt vi phạm hành chính về đăng ký và quản lý cư trú
Mỗi công dân đều phải có chỗ ở hợp pháp và tuân thủ sự quản lý cư trú của cơ quan nhà nước thẩm quyền. Vậy vi phạm [...]
Mức xử phạt khi vi phạm quy định về trang bị, lắp đặt phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ
Trong thời gian gần đây, nhiều vụ cháy xảy ra tại nhà ở riêng lẻ, nhà trọ, chung cư mini và các cơ sở kinh doanh đã gây [...]