Phân biệt kháng cáo và kháng nghị trong bộ luật tố tụng dân sự
Quá trình giải quyết vụ án, khi không đồng ý với bản án, quyết định của Tòa án hoặc nhận thấy bản án, quyết định có sai sót, pháp luật quy định cơ chế kháng cáo và kháng nghị để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét lại. Vậy kháng cáo và kháng nghị khác nhau như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Kháng cáo là gì?
Căn cứ Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Theo đó, kháng cáo được hiểu là việc người có quyền kháng cáo không đồng ý với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung vụ án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án dân sự, đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là những chủ thể có quyền kháng cáo khi cho rằng bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xem thêm: Cách tính thời hạn kháng cáo theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Kháng nghị là gì?
Căn cứ tại Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về kháng nghị, theo đó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết định đó có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Như vậy, kháng nghị là việc Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết định đó có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Khác với kháng cáo, kháng nghị không phải là quyền của đương sự mà là quyền năng tố tụng của Viện kiểm sát được pháp luật quy định.
Xem thêm: Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hiện nay
Phân biệt kháng cáo và kháng nghị
Kháng cáo và kháng nghị đều là những cơ chế nhằm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, giữa kháng cáo và kháng nghị có những điểm khác nhau cơ bản.
Chủ thể thực hiện.
Theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người có quyền kháng cáo là đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và các chủ thể khác được pháp luật quy định.
Trong khi đó, theo Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người có quyền kháng nghị là Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
Như vậy, kháng cáo được thực hiện bởi chủ thể có quyền kháng cáo, còn kháng nghị được thực hiện bởi Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Căn cứ thực hiện.
Kháng cáo được thực hiện khi chủ thể có quyền kháng cáo không đồng ý với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và muốn yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại.
Đối với kháng nghị, theo Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Mục đích.
Kháng cáo nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo khi họ cho rằng bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa phù hợp.
Kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng quy định pháp luật và khắc phục những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định của Tòa án.
Thời hạn.
Căn cứ tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với kháng nghị, căn cứ tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.
Kháng cáo và kháng nghị đều có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án được xem xét khách quan và đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ kháng cáo do chủ thể có quyền kháng cáo thực hiện, còn kháng nghị do Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hiện.
Việc phân biệt hai hình thức này giúp người tham gia tố tụng xác định đúng quyền, nghĩa vụ của mình và thực hiện việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Trên đây là bài viết về “Phân biệt kháng cáo và kháng nghị trong bộ luật tố tụng dân sự”, nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey để được giải đáp thắc mắc kịp thời và chính xác bạn nhé.
Những điểm đáng chú ý nhất của Luật trẻ em
Pháp luật trẻ em được hình thành để bảo vệ những mầm non tương lai của đất nước. Vì vậy, bất cứ ai cũng cần quan [...]
Hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án dân sự
Hoãn, tạm đình chỉ và đình chỉ thi hành án dân sự được quy định như thế nào? Hãy cùng LawKey tìm hiểu qua bài viết [...]