Hậu quả pháp lý của việc nâng khống vốn điều lệ để phát hành cổ phiếu trên sàn chứng khoán
Việc nâng khống vốn điều lệ tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra, doanh nghiệp và các cá nhân có liên quan có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Hành vi nâng khống vốn điều lệ vi phạm những quy định nào?
Hành vi nâng khống vốn điều lệ không chỉ làm sai lệch thông tin cung cấp cho nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng đến tính minh bạch, công bằng của thị trường chứng khoán vi phạm các quy định như sau:
Hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Chứng khoán năm 2019
Khoản 1 Điều 12 Luật Chứng khoán năm 2019 quy định nghiêm cấm hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hành vi gian lận, lừa đảo, làm giả tài liệu, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc công bố thông tin sai lệch, che giấu hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh và đầu tư chứng khoán.
Theo quy định này, trường hợp doanh nghiệp kê khai vốn điều lệ đã góp không đúng thực tế để đủ điều kiện phát hành hoặc niêm yết cổ phiếu là hành vi tạo dựng thông tin sai sự thật, thuộc nhóm hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.
Không đáp ứng điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng
Theo Điều 15 Luật Chứng khoán năm 2019, doanh nghiệp muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo luật định và hồ sơ đăng ký chào bán phải bảo đảm tính trung thực, chính xác và đầy đủ theo quy định của Luật Chứng khoán và Nghị định số 155/2020/NĐ-CP.
Do đó, nếu doanh nghiệp nâng khống vốn điều lệ hoặc kê khai không đúng số vốn thực góp để lập hồ sơ đăng ký chào bán thì thực chất doanh nghiệp không đáp ứng điều kiện phát hành. Trong trường hợp này, hồ sơ đăng ký được xem là có thông tin sai lệch và có thể bị từ chối chấp thuận hoặc bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin
Đối với công ty đại chúng, việc công bố thông tin phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm tính minh bạch của thị trường chứng khoán.
Theo Điều 4 Thông tư số 96/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính, việc công bố thông tin phải bảo đảm các nguyên tắc:
– Đầy đủ;
– Chính xác;
– Kịp thời;
– Đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung đã công bố.
Bên cạnh đó, khi có thay đổi về nội dung đã công bố, doanh nghiệp phải kịp thời công bố đầy đủ nội dung thay đổi và lý do thay đổi; đồng thời phải báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch Chứng khoán theo quy định.
Như vậy, nếu doanh nghiệp nâng khống vốn điều lệ để phát hành cổ phiếu, dẫn đến việc công bố thông tin không đúng với tình hình tài chính thực tế thì sẽ bị xem là công bố thông tin sai lệch, vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định của pháp luật về chứng khoán.
Hậu quả pháp lý của hành vi nâng khống vốn điều lệ
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả sảy ra có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
Xử phạt vi phạm hành chính
Đối với hành vi lập hồ sơ chào bán chứng khoán ra công chúng có thông tin sai lệch hoặc không trung thực, pháp luật quy định các chế tài xử phạt vi phạm hành chính nhằm bảo đảm tính minh bạch của thị trường chứng khoán và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
Căn cứ Điều 9 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 128/2021/NĐ-CP, quy định như sau:
“1. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với hành vi không sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng khi phát hiện thông tin không chính xác hoặc bỏ sót nội dung theo quy định phải có trong hồ sơ hoặc khi phát sinh thông tin liên quan đến hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng.
2. Phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng đối với hành vi lập, xác nhận hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng có thông tin sai lệch, sai sự thật hoặc che giấu sự thật.
3. Phạt tiền từ 2.500.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng đối với hành vi làm giả giấy tờ, xác nhận trên giấy tờ giả mạo chứng minh đủ điều kiện chào bán trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng.
4. Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính là giấy tờ giả mạo đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc thu hồi chứng khoán đã chào bán; hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi phát sinh đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp đã chào bán chứng khoán ra công chúng;
b) Buộc thu hồi chứng khoán đã chào bán; hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi phát sinh đối với hành vi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này trong trường hợp đã chào bán chứng khoán ra công chúng;
c) Buộc hủy bỏ thông tin, cải chính thông tin đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.”
Từ các quy định nêu trên có thể thấy, trường hợp doanh nghiệp nâng khống vốn điều lệ nhằm lập hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng sẽ bị xem là hành vi lập hồ sơ có thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật theo khoản 2 Điều 9 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP và có thể bị phạt tiền từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Trường hợp doanh nghiệp làm giả tài liệu hoặc sử dụng giấy tờ giả để chứng minh đủ điều kiện phát hành chứng khoán thì có thể bị xử phạt từ 2.500.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng theo khoản 3 Điều 9.
Ngoài hình thức xử phạt bằng tiền, tổ chức vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như thu hồi chứng khoán đã chào bán, hoàn trả tiền cho nhà đầu tư kèm theo khoản lãi phát sinh, đồng thời hủy bỏ hoặc cải chính các thông tin đã công bố sai lệch. Những biện pháp này nhằm khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đồng thời bảo đảm tính công khai, minh bạch và ổn định của thị trường chứng khoán.
Truy cứu trách nhiệm hình sự
Trường hợp hành vi nâng khống vốn điều lệ để phát hành cổ phiếu không chỉ dừng lại ở mức độ vi phạm hành chính mà còn gây thiệt hại cho nhà đầu tư hoặc thu lợi bất chính đạt mức luật định thì cá nhân, tổ chức có liên quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 209 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán, quy định:
“1. Người nào cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh toán chứng khoán thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng;
b) Thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Thu lợi bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên;
c) Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 3.000.000.000 đồng trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”
Từ quy định trên có thể thấy, trường hợp công ty đại chúng cố ý nâng khống vốn điều lệ nhằm tạo dựng thông tin sai lệch về năng lực tài chính để thực hiện việc chào bán hoặc phát hành cổ phiếu ra công chúng, nếu hành vi này gây thiệt hại cho nhà đầu tư, thu lợi bất chính hoặc thuộc các trường hợp định khung khác theo Điều 209 Bộ luật Hình sự thì người thực hiện có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, hình phạt có thể là phạt tiền đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù đến 05 năm đối với cá nhân. Đối với pháp nhân thương mại, mức phạt tiền có thể lên đến 5.000.000.000 đồng, đồng thời còn có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Trên đây là bài viết về “Hậu quả pháp lý của việc nâng khống vốn điều lệ để phát hành cổ phiếu trên sàn chứng khoán”, nếu còn vấn đề thắc mắc hãy liên hệ Lawkey để được giải đáp kịp thời và chính xác.
Xem thêm: Điều kiện để công ty lên sàn chứng khoán theo quy định pháp luật
Án treo là gì? Điều kiện được hưởng án treo?
Án treo là gì? Điều kiện để được hưởng án treo? Phân tích chi tiết các điều kiện theo quy định của pháp luật về [...]
Thời hạn quyết định việc truy tố
Giai đoạn truy tố là gì? Thời hạn quyết định việc truy tố được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như thế nào? [...]