Điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về điều kiện khởi kiện? Người khởi kiện cần lưu ý những gì khi khởi kiện. Hãy cùng Lawkey tìm hiểu qua bài viết dưới đây. 

Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự

Hiện nay, pháp luật không có khái niệm về khởi kiện vụ án dân sự là gì tuy nhiên, căn cứ Bộ luật Dân sự 2015Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì khởi kiện là một trong những quyền của công dân. Khi một cá nhân, tổ chức nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, bị ảnh hưởng bởi cá nhân, tổ chức khác thì có quyền thực hiện việc tố tụng của mình là gửi đơn khởi kiện tại Tòa án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình khởi kiện hoặc thông qua đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền.

Điều kiện khởi kiện theo quy định pháp luật

Pháp luật quy định cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích của chính mình.

Điều kiện về chủ thể

Cá nhân khởi kiện trong tố tụng dân sự

Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có căn cứ cho rằng các quyền, lợi ích đó bị xâm phạm trong lĩnh vực dân sự. Quyền này được ghi nhận tại Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, theo đó cá nhân có thể tự mình khởi kiện hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để thực hiện quyền khởi kiện.

Để thực hiện quyền này, cá nhân phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 69 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Cụ thể, pháp luật phân biệt giữa năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, được pháp luật thừa nhận như nhau đối với mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức. Trong khi đó, năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng.

Bên cạnh việc khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình, cá nhân còn có thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Theo khoản 2 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cha, mẹ hoặc người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần.

Cơ quan, tổ chức khởi kiện trong tố tụng dân sự

Cơ quan, tổ chức cũng có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình khi các quyền và lợi ích đó bị xâm phạm. Điều kiện đặt ra là cơ quan, tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân. 

Ngoài ra, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nếu thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
  • Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật.
  • Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
  • Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật.

Điều kiện về thẩm quyền

Điều kiện khởi kiện theo loại việc 

Việc xác định điều kiện khởi kiện theo loại việc có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt thẩm quyền giải quyết giữa Tòa án và các cơ quan khác. Theo quy định pháp luật Tòa án chỉ thụ lý giải quyết những tranh chấp và yêu cầu thuộc thẩm quyền của mình, được quy định cụ thể tại các Điều 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Nếu một vụ việc không thuộc các nhóm này, hoặc pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của cơ quan khác thì Tòa án sẽ không có thẩm quyền thụ lý. Như vậy việc xác định đúng loại việc là điều kiện tiên quyết để xác định có được quyền khởi kiện tại Tòa án hay không.

Điều kiện khởi kiện theo thẩm quyền của Tòa án theo cấp

Thẩm quyền của Tòa án theo cấp được xác định nhằm phân định rõ ràng giữa các cấp xét xử trong hệ thống Tòa án. Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bỏ sung, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với: 

Những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 sửa đổi bổ sung, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực nhưng bị kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc theo quy định của Luật Trọng tài thương mại.

Điều kiện khởi kiện theo thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Thẩm quyền theo lãnh thổ là căn cứ để xác định Tòa án cụ thể có thẩm quyền giải quyết vụ án. Theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nguyên tắc chung là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự.

Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số trường hợp đặc biệt, cho phép nguyên đơn lựa chọn Tòa án như nơi thực hiện hợp đồng, nơi có tài sản tranh chấp. Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận bằng văn bản để lựa chọn Tòa án giải quyết nếu pháp luật cho phép. 

Chưa được tòa án hoặc cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền giải quyết bằng 1 bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật

Một trong những điều kiện quan trọng để khởi kiện vụ án dân sự là vụ việc đó chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Quy định này nhằm bảo đảm nguyên tắc “một vụ việc không bị xét xử hai lần”, tránh tình trạng trùng lặp trong giải quyết tranh chấp. Nội dung này được ghi nhận tại điểm c khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tòa án sẽ trả lại đơn nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

Trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhà mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại.

Chưa thực hiện thủ tục hòa giải tiền tố tụng

Trong một số trường hợp, pháp luật quy định việc hòa giải là điều kiện bắt buộc trước khi khởi kiện tại Tòa án. Nếu chưa thực hiện thủ tục hòa giải tiền tố tụng thì Tòa án có thể từ chối thụ lý vụ án.

Cụ thể, đối với tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất, đương sự bắt buộc phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp trước khi khởi kiện ra Tòa án theo quy định của Luật Đất đai 2024.

Bên cạnh đó, đối với tranh chấp lao động pháp luật cũng yêu cầu phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện, trừ một số trường hợp được miễn hòa giải. Quy định này được ghi nhận tại Bộ luật Lao động 2019. Như vậy, hòa giải tiền tố tụng trong các trường hợp này là điều kiện bắt buộc để Tòa án thụ lý vụ án.

>> Xem thêm: Những tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải

Quyền khởi kiện bị hạn chế

Trong một số quan hệ pháp luật đặc thù, pháp luật đặt ra những hạn chế nhất định đối với quyền khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích chung hoặc bảo đảm sự ổn định của các quan hệ xã hội.

Thứ nhất, đối với quyền khởi kiện ly hôn, pháp luật có quy định hạn chế quyền của người chồng. Cụ thể, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Thứ hai, đối với việc phân chia di sản thừa kế, pháp luật cũng có những hạn chế nhất định. Theo Điều 661 của Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ, chồng hoặc gia đình thì có thể bị hạn chế hoặc tạm thời chưa được chia. Quy định này nhằm đảm bảo sự ổn định đời sống và quyền lợi của những người liên quan.

Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện được quy định tại Bộ luật dân sự là thời hạn mà đương sự có quyền được khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Thời hiệu cũng là một trong những điều kiện để khởi kiện, nếu vụ án đã hết thời hiệu thì mất quyền khởi kiện.

Tuy nhiên, có những vụ án không áp dụng thời hiệu khởi kiện như: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai; trường hợp khác do luật quy định.

>> Xem thêm: Các lỗi thường gặp khi làm đơn khởi kiện

Trên đây là bài viết về “Điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam”, nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey hoặc sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn của chúng tôi. 

Khách hàng nói về chúng tôi

Tôi rất hài lòng về chất lượng dịch vụ tại LawKey - Chìa khóa pháp luật. Các bạn là đội ngũ luật sư, chuyên gia kế toán và tư vấn viên nhiệt thành, đầy bản lĩnh với nghề nghiệp. Chúc các bạn phát đạt hơn nữa trong tương lai.

Anh Toản - CTO Công ty CP công nghệ phân phối Flanet

Đống Đa, Hà Nội
Mình cảm ơn đội ngũ công ty luật và dịch vụ kế toán LawKey về độ nhiệt tình và tốc độ làm việc. Tôi rất an tâm và tin tưởng khi làm việc với LawKey, đặc biệt là được chủ tịch Hà trực tiếp tư vấn. Chúc các bạn phát triển thịnh vượng và đột phá hơn nữa.

Mr Tô - Founder & CEO MengCha Utd

Đống Đa, Hà Nội
Tôi đã trải nghiệm nhiều dịch vụ luật sư trong quá trình kinh doanh của mình, nhưng thực sự an tâm và hài lòng khi làm bắt đầu làm việc với các bạn LawKey: Các bạn trẻ làm việc rất Nhanh - Chuẩn - Chính xác - Hiệu quả - Đáng tin cậy.

Mr Tiến - Founder & CEO SATC JSC

Ba Đình, Hà Nội
Từ khi khởi nghiệp đến nay gần 30 năm, tôi sử dụng rất nhiều dịch vụ tư vấn luật, tôi đặc biệt hài lòng với dịch vụ mà LawKey cung cấp cho IDJ Group. Chúc cho LawKey ngày càng phát triển và là đối tác quan trọng lâu dài của IDJ Group.

Mr Trần Trọng Hiếu - Chủ tịch IDJ Group

Hà Nội - Việt Nam
Thay mặt Công ty Dương Cafe, tôi xin chân thành cảm ơn đội ngũ luật sư, kế toán của LawKey. Thực sự yên tâm khi sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật và kế toán thuế bên các bạn. Chúc các bạn phát triển hơn, phục vụ tốt hơn cho cộng đồng doanh nghiệp.

Mr Dương - CEO Dương Cafe

Hà Nội
Tại LawKey, đội ngũ của các bạn rất chuyên nghiệp. Các bạn không chỉ cho thấy sự thân thiện mà còn chủ động tìm hiểu giúp đỡ tôi trong công việc. Tôi tin tưởng dịch vụ luật và kế toán của các bạn.  

Mr Hưng - CEO Tư vấn du học Bạn Đồng Hành

Việt Nam

Khách hàng tiêu biểu