Vi phạm trong hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự và chế tài xử lý theo Bộ luật Hình sự
Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về các hành vi vi phạm trong hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự và chế tài xử lý đối với các hành vi này? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là gì?
Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố biết rõ một người không thực hiện hành vi phạm tội nhưng vẫn cố ý khởi tố, điều tra hoặc truy tố người đó. Hành vi này xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự do, danh dự, nhân phẩm và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân.
Người không có tội được hiểu là người không thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự hoặc có thực hiện hành vi nhưng thuộc các trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn, người thực hiện hành vi khi chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình hoặc trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Cần lưu ý rằng, trong quá trình điều tra, nếu sau khi khởi tố bị can mới phát sinh căn cứ xác định người đó thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự và cơ quan tiến hành tố tụng đã đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật thì việc khởi tố trước đó không bị coi là hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. Chỉ khi người có thẩm quyền biết rõ người đó không có tội nhưng vẫn cố ý truy cứu trách nhiệm hình sự thì mới cấu thành tội phạm này.
Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là gì?
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự cố ý không khởi tố, không điều tra, không truy tố hoặc không thực hiện các biện pháp cần thiết để xử lý người mà mình biết rõ đã thực hiện hành vi phạm tội.
Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi nó làm cho người phạm tội không bị xử lý theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện để tội phạm tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho xã hội và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, việc cố ý không xử lý người phạm tội khi đã có đầy đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm trong hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự
Khi vi phạm quy định trong hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử lý như sau
Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội
Theo Điều 368 Bộ luật Hình sự năm 2015, người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà mình biết rõ là không có tội thì bị xử lý như sau:
Khung hình phạt cơ bản:
Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
Khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm khi thuộc một trong các trường hợp:
– Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác;
– Thực hiện đối với từ 02 người đến 05 người;
– Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai hoặc người già yếu;
– Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
– Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
– Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Khung hình phạt từ 10 năm đến 15 năm khi thuộc một trong các trường hợp:
– Thực hiện đối với 06 người trở lên;
– Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
– Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;
– Làm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan tự sát.
Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
Theo Điều 369 Bộ luật Hình sự năm 2015, người có thẩm quyền cố ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội thì bị xử lý như sau:
Khung hình phạt cơ bản:
Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm khi thuộc một trong các trường hợp:
– Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng;
– Thực hiện đối với từ 02 người đến 05 người;
– Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bỏ trốn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng;
– Dẫn đến việc người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự trả thù người tố giác tội phạm, người bị hại hoặc nhân chứng;
– Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Khung hình phạt từ 07 năm đến 12 năm khi thuộc một trong các trường hợp:
– Thực hiện đối với 06 người trở lên;
– Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác;
– Người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
– Làm người bị hại tự sát.
Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội và không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là hai hành vi xâm phạm nghiêm trọng hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng. Một mặt gây ra oan sai đối với người vô tội, mặt khác dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm suy giảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm và ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với cơ quan tư pháp. Vì vậy, Bộ luật Hình sự đã quy định các chế tài nghiêm khắc nhằm xử lý những hành vi này, qua đó góp phần bảo đảm nguyên tắc công bằng, khách quan và thượng tôn pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự.
Trên đây là bài viết về “Vi phạm trong hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự và chế tài xử lý theo Bộ luật Hình sự”. Nếu còn vấn đề gì thắc mắc liên quan đến hoạt động pháp lý hãy liên hệ Lawkey bạn nhé.
Xem thêm: Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Mua dâm là gì? Các hình thức xử phạt đối với hành vi mua dâm
Mua dâm là gì? Các hình thức xử phạt đối với hành vi mua dâm gồm những hình thức xử phạt nào? Cùng Lawkey tìm hiểu nội [...]
Những chế độ áp dụng đối với phạm nhân dưới 18 tuổi
Phạm nhân nói chung và phạm nhân dưới 18 tuổi nói riêng được đảm bảo các chế độ theo luật định. Những chế độ [...]