Sự khác biệt giữa nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự
Ai có nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam? Đây là một trong những vấn đề quan trọng, phản ánh bản chất khác nhau giữa hai loại hình tố tụng. Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự
Căn cứ Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc xác định sự thật của vụ án:
“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.”
Theo quy định trên, trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội mà chỉ có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu hoặc ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự
Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh như sau:
Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp và giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Đồng thời, đương sự phản đối yêu cầu của bên còn lại cũng phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho sự phản đối của mình.
Bên cạnh nguyên tắc chung này, pháp luật cũng quy định một số trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn như:
– Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; ngược lại, bên kinh doanh phải chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại.
– Trong một số vụ án lao động, nếu người lao động không thể cung cấp tài liệu, chứng cứ do người sử dụng lao động đang quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp các tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
– Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Ngoài ra, nếu đương sự có nghĩa vụ chứng minh nhưng không cung cấp được hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ thì Tòa án sẽ giải quyết vụ việc dựa trên những chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và bên không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh có thể phải gánh chịu hậu quả bất lợi.
Như vậy, trong tố tụng dân sự về nguyên tắc chung nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự.
Tại sao lại có sự khác biệt?
Sự khác biệt về nghĩa vụ chứng minh xuất phát từ bản chất của từng loại quan hệ tố tụng.
Tố tụng dân sự
Tố tụng dân sự chủ yếu giải quyết các tranh chấp về tài sản, hợp đồng, hôn nhân và gia đình, thừa kế hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức trên cơ sở bình đẳng.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự là nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự. Theo đó, các bên có quyền quyết định việc khởi kiện, phạm vi yêu cầu, cung cấp chứng cứ và lựa chọn phương thức bảo vệ quyền lợi của mình. Tòa án giữ vai trò là cơ quan xét xử khách quan, không thay đương sự đi tìm kiếm chứng cứ để bảo vệ yêu cầu của họ.
Chính vì vậy, ai đưa ra yêu cầu thì người đó phải chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Nếu không chứng minh được, họ sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi, chẳng hạn như yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.
Tố tụng hình sự
Khác với tố tụng dân sự, tố tụng hình sự không chỉ nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa các cá nhân mà còn hướng tới việc bảo vệ trật tự an toàn xã hội lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước các hành vi phạm tội.
Do Nhà nước nắm giữ quyền truy cứu trách nhiệm hình sự và quyền trừng phạt đối với người phạm tội nên các cơ quan tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm chứng minh hành vi phạm tội. Việc giao trách nhiệm này cho Nhà nước nhằm bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đồng thời tránh việc làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
Đặc biệt, nguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự khẳng định rằng người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, họ không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội.
Mặc dù đều hướng tới mục tiêu bảo đảm công lý, nhưng nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự và tố tụng hình sự được thiết kế khác nhau do xuất phát từ bản chất riêng của từng loại quan hệ pháp luật.
Trên đây là bài viết về “Sự khác biệt giữa nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự và tố tụng dân sự”, nếu còn vấn đề gì thắc mắc hãy liên hệ Lawkey để được giải đáp kịp thời bạn nhé.
Xem thêm: Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự là gì?
Nghĩa vụ của người quản lý di sản thừa kế là gì?
Việc thừa kế di sản luôn là những vấn đề đau đầu của nhiều người vì nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa [...]
Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời? Đặc điểm, ý nghĩa áp dụng
Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời? Đặc điểm, ý nghĩa áp dụng của các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố [...]